Nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo từ thực tiễn Viện KSND khu vực 10, tỉnh Gia Lai

rong thời gian qua, công tác khiếu tố tại Viện KSND khu vực 10 đã được thực hiện nghiêm túc, góp phần bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, trước yêu cầu cải cách tư pháp và thực tiễn phát sinh, công tác này vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc cần được nhận diện và có giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong thời gian tới.

 1. Thực trạng và những khó khăn trong công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Viện KSND khu vực 10, tỉnh Gia Lai

 

ViệnKSND khu vực 10 được thành lập trên cơ sở sáp nhập ViệnKSND huyện Đak Đoa và ViệnKSND huyện Mang Yang, quản lý địa bàn rộng khoảng 2.118,15 km². Địa bàn trải dài, khoảng cách địa lý giữa các khu vực lớn, nhưng chỉ có 22 biên chế đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là trong việc triệu tập công dân đến làm việc, tiến hành xác minh hoặc kiểm tra trực tiếp. Bên cạnh đó, sau sáp nhập, số lượng công dân đến khiếu nại, tố cáo trực tiếp và số lượng đơn thư tiếp nhận đều tăng so với trước đây. Từ khi thành lập đến nay, đơn vị đã tiếp nhận 58 đơn các loại; tiếp 14 lượt công dân; tăng 20% so với trước khi sáp nhập, trong khi Kiểm sát viên chủ yếu được phân công kiêm nhiệm, dẫn đến khối lượng công việc lớn, có thời điểm quá tải, ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng giải quyết.
 
Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính và tổ chức lại các cơ quan tư pháp, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhiều cơ quan, đơn vị có sự thay đổi đáng kể. Việc không tổ chức cấp huyện đã làm phát sinh nhiều vướng mắc trong xác định thẩm quyền tiếp nhận, phân loại và xử lý đơn. Trong khi đó, hiện chưa có văn bản hướng dẫn đầy đủ, thống nhất đối với một số trường hợp cụ thể, dẫn đến việc áp dụng pháp luật giữa các cơ quan đôi lúc chưa thống nhất, điều đó đã gây khó khăn nhiều cho công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.
 
Do số lượng biên chế còn hạn chế, nên Viện KSND khu vực 10 chỉ bố trí được 01 Kiểm sát viên kiêm nhiệm công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo. Kiểm sát viên này phải thực hiện toàn bộ quy trình công tác, từ tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, thụ lý, kiểm sát việc giải quyết đến tham mưu ban hành các văn bản liên quan. Trong khi đó, công tác khiếu tố có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, nhiều nghiệp vụ khác nhau, đòi hỏi người thực hiện công tác này phải có trình độ chuyên môn vững, am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm thực tiễn và khả năng xử lý tình huống toàn diện. Vì vậy, khối lượng công việc lớn, yêu cầu chuyên môn cao đã tạo áp lực không nhỏ đối với Kiểm sát viên được giao phụ trách công tác này.Mặc dù Ngành đã quan tâm, đầu tư mua sắm trang thiết bị, nhất là công tác ứng dụng công nghệ phục vụ cho công tác kiểm sát nói chung, nhưng đối với trang thiết bị phục vụ cho công tác tiếp công dân và kiểm sát khiếu tố vẫn còn có sự hạn chế nhất định.
 
Kiểm sát viên Viện KSND khu vực 10 tiếp công dân tại trụ sở

2. Một số giải pháp đã triển khai
Để khắc phục những khó khăn nêu trên, Viện KSND khu vực 10 đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, kết hợp giữa đổi mới phương thức quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ với ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong công tác tiếp công dân, giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Các giải pháp này được xây dựng trên cơ sở quán triệt quan điểm lấy người dân làm trung tâm, lấy cán bộ làm nhân tố quyết định chất lượng công tác. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực, đồng thời là nhân tố quyết định sự thành công của mọi nhiệm vụ; cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Đối với công tác tiếp công dân, Người căn dặn cán bộ phải thực sự là “công bộc của dân”, luôn tận tụy, chân thành, lắng nghe và tôn trọng Nhân dân; việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Quán triệt tư tưởng đó, đơn vị đã triển khai các nhóm giải pháp sau:
 
2.1. Đổi mới công tác quản lý, điều hành (4 rõ): Đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành theo phương châm “4 rõ” và quản trị công việc bằng kết quả đầu ra. Theo đó, việc tiếp nhận, phân loại, thụ lý, giải quyết và kiểm sát việc giải quyết từng đơn thư đều được giao đích danh cho cá nhân hoặc bộ phận chịu trách nhiệm theo tiêu chí: “Rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ sản phẩm”. Trong đó, "rõ người" nhằm xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân; "rõ việc" yêu cầu nội dung công việc phải được cụ thể hóa theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền; "rõ tiến độ" là xác định thời hạn hoàn thành đối với từng công việc, tránh tình trạng chậm trễ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; còn "rõ sản phẩm" là lượng hóa kết quả công việc bằng các sản phẩm cụ thể có thể kiểm tra, đánh giá được.
 
Song song với đó, đơn vị xây dựng bộ chỉ tiêu định lượng đối với công tác tiếp công dân và kiểm sát khiếu tố theo phương châm “Làm đến nơi, đến chốn”. Theo đó, đối với các vụ việc có nội dung rõ ràng, đơn vị phấn đấu ban hành thông báo thụ lý, phiếu chuyển đơn hoặc văn bản hướng dẫn sớm hơn từ 01 đến 02 ngày so với thời hạn luật định. Đối với các đơn không thuộc thẩm quyền, 100% đơn chuyển đều được theo dõi bằng sổ quản lý hoặc phần mềm riêng để đôn đốc kết quả giải quyết; đồng thời kiên quyết ban hành kiến nghị, yêu cầu trả lời đối với những trường hợp chậm giải quyết hoặc giải quyết chưa dứt điểm theo quy định. Đơn vị cũng tăng cường đối thoại trực tiếp với công dân nhằm giải thích đầy đủ quy định của pháp luật, hạn chế tình trạng khiếu nại, tố cáo kéo dài hoặc vượt cấp.
 
2.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ (04 T): Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác tiếp công dân, cán bộ phải thực sự là "công bộc của dân", tận tụy phục vụ Nhân dân, gần dân, hiểu dân, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của Nhân dân; đồng thời phải có cả đức và tài, tránh biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền. Quán triệt tư tưởng đó, đơn vị xác định yếu tố con người là nhân tố quyết định chất lượng công tác tiếp công dân và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trên cơ sở đó, mặc dù chỉ bố trí 01 Kiểm sát viên kiêm nhiệm công tác tiếp công dân và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, đơn vị đã lựa chọn cán bộ theo tiêu chí "4T", gồm: "Tận tâm, tinh thông, thực chất, thuyết phục"... Đồng thời, Kiểm sát viên được yêu cầu chủ động mời công dân đến làm việc để làm rõ nội dung phản ánh, khiếu nại, tố cáo ngay từ đầu, kịp thời phân loại, xử lý hoặc hướng dẫn công dân theo đúng quy định, thay vì thụ động chờ ý kiến phối hợp từ các đơn vị khác.
 

2.3. Chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ gắn với chuyển đổi số(Tủ sách pháp luật, AI, Mindmap):Xuất phát từ đặc thù nội dung khiếu nại, tố cáo liên quan đến hầu hết các lĩnh vực công tác của Ngành như hình sự, dân sự, hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự..., đơn vị đã xây dựng“Tủ sách pháp luật và kỹ năng giải quyết khiếu tố”làm nguồn tài liệu nghiệp vụ dùng chung. Sau khi tiếp nhận đơn, Bộ phận khiếu tố thực hiện phân loại ban đầu và chuyển ngay đến bộ phận nghiệp vụ có chuyên môn tương ứng để nghiên cứu, tham mưu giải quyết. Kiểm sát viên của từng bộ phận căn cứ quy định của pháp luật, hướng dẫn nghiệp vụ và tài liệu trong “Tủ sách pháp luật và kỹ năng giải quyết khiếu tố” để trực tiếp tham gia tiếp công dân, giải quyết hoặc tham mưu ban hành văn bản chuyển, trả đơn. Sau khi hoàn thành, hồ sơ được chuyển trở lại Bộ phận khiếu tố để quản lý, thống kê và theo dõi tập trung.
 
Trên nền tảng nguồn dữ liệu này, đơn vị từng bước ứng dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) để hỗ trợ đọc, tóm tắt hồ sơ, bóc tách các mốc thời gian, chứng cứ và những nội dung trọng tâm của vụ việc; đồng thời kết hợp xây dựng sơ đồ tư duy (Mindmap) phục vụ báo cáo lãnh đạo, nghiên cứu hồ sơ và giải thích cho công dân một cách trực quan, dễ hiểu, đúng bản chất vụ việc. AI chỉ được sử dụng với vai trò công cụ hỗ trợ, còn việc đánh giá chứng cứ, xác định căn cứ pháp luật và quyết định hướng xử lý vẫn do Kiểm sát viên trực tiếp thực hiện theo quy định của pháp luật.
 
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp trên đã mang lại những kết quả tích cực bước đầu. Công tác tiếp công dân được thực hiện nhanh chóng, khoa học hơn; nhiều nội dung khiếu nại đơn giản được giải thích, hướng dẫn và giải quyết ngay trong quá trình tiếp dân. Đối với các vụ việc có nội dung rõ ràng nhưng cần thực hiện thủ tục theo quy định, việc ban hành thông báo thụ lý, phiếu chuyển đơn hoặc văn bản hướng dẫn đều được thực hiện sớm hơn từ 01 đến 02 ngày so với thời hạn luật định, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.
 

2.4. Định hướng xây dựng mô hình phòng tiếp công dân thông minh(Text-to-Speech, tra cứu pháp luật):Tiếp tục nghiên cứu xây dựng mô hình “Phòng tiếp công dân thông minh”.Trên cơ sở kết quả đạt được, Viện KSND khu vực 10 đang nghiên cứu triển khai giải pháp ứng dụng công nghệText-to-Speech (chuyển đổi văn bản thành giọng nói)kết hợp xây dựng hệ thống tra cứu dữ liệu pháp luật điện tử tại chỗ. Theo đó, đơn vị dự kiến từng bước đầu tư trang thiết bị và phần mềm để tự động phát các nội dung hướng dẫn về trình tự, thủ tục khiếu nại, tố cáo, quyền và nghĩa vụ của công dân tại khu vực phòng chờ. Trong thời gian chờ làm việc, công dân có thể chủ động tiếp cận các thông tin cần thiết, qua đó giảm thời gian giải thích lặp lại của cán bộ tiếp dân. Đồng thời, hệ thống sẽ được tích hợp cơ sở dữ liệu pháp luật điện tử ngay tại phòng tiếp dân, giúp Kiểm sát viên tra cứu nhanh các quy định của pháp luật, văn bản hướng dẫn, án lệ và các tài liệu nghiệp vụ để giải thích, hướng dẫn công dân kịp thời, chính xác. Khi được triển khai, mô hình này sẽ góp phần rút ngắn thời gian tiếp nhận, hướng dẫn và xử lý đơn; nâng cao chất lượng đối thoại, nhất là đối với các trường hợp đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc không thuộc thẩm quyền kiểm sát giải quyết, hạn chế việc công dân phải đi lại nhiều lần. 
 
3. Kết quả và định hướng
 
Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên, Viện KSND khu vực 10 đã từng bước khắc phục những khó khăn phát sinh sau sáp nhập, nâng cao chất lượng công tác tiếp công dân, giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn. Thời gian tới, đơn vị sẽ tiếp tục hoàn thiện các giải pháp đã triển khai, đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số và nghiên cứu nhân rộng những mô hình phù hợp, đồng thời kiến nghị Ngành quan tâm đầu tư hơn nữa cơ sở vật chất, trang thiết bị và hoàn thiện cơ chế hướng dẫn để đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đây không chỉ là câu chuyện hoàn thành chỉ tiêu nghiệp vụ, mà trên hết là lời khẳng định cho bản lĩnh chuyên môn, sự thấu tình đạt lý và tinh thần phụng sự nhân dân của đội ngũ cán bộ Viện KSND khu vực 10, tỉnh Gia Lai, nơi gần như mọi hoạt động nghiệp vụ của đơn vị song hành cùng cuộc sống của người dân./
Xuân Kỳ, Thu Bình – Viện KSND khu vực 10

CÁC BÀI LIÊN QUAN

Trở về 1 2 3 4 5 Tiếp

Số lượt truy cập:12,574,836 lượt

Số người online:510 người

© Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai thiết kế và giữ bản quyền
Mong bạn đọc góp ý kiến. Thư điện tử liên hệ: trangtinvks_gialai@vks.gov.vn