Kinh nghiệm soạn thảo kiến nghị phòng ngừa trong thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15

Tác giả: Lê Bùi Thị Ngọc - Kiểm sát viên sơ cấp Phòng 9 Viện KSND tỉnh Gia Lai

 Mở đầu 

Nghị quyết số 205/2025/QH15 của Quốc hội về thí điểmViện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sựđể bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công là một bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người, quyền công dân và lợi ích của Nhà nước, xã hội theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và chủ trương cải cách tư pháp của Đảng. Việc trao cho Viện kiểm sát nhân dân thẩm quyền khởi kiện trong những trường hợp nhất định không chỉ mở rộng phương thức bảo vệ pháp luật mà còn khẳng định vai trò chủ động của ngành Kiểm sát trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể yếu thế và lợi ích công cộng.

 

Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết, bên cạnh yêu cầu quán triệt đầy đủ mục tiêu, phạm vi và điều kiện áp dụng cơ chế thí điểm, các đơn vị trong ngành Kiểm sát nhân dân còn phải bảo đảm việc vận dụng pháp luật thống nhất, chặt chẽ, thận trọng và phù hợp với thực tiễn địa phương. Đối với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai - là đơn vị chưa thí điểm thì đây là nhiệm vụ mới, có tính chất phức tạp, đòi hỏi sự chủ động trong công tác nghiên cứu, tham mưu, xác minh, thu thập tài liệu, đánh giá chứng cứ và lựa chọn biện pháp pháp lý phù hợp đối với từng vụ việc cụ thể.

Thực tiễn bước đầu cho thấy, công tác ban hành kiến nghị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình xem xét, xử lý các vụ việc có dấu hiệu xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của nhóm dễ bị tổn thương hoặclợi ích công. Kiến nghị không chỉ là công cụ yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khắc phục vi phạm, phòng ngừa hậu quả tiếp tục phát sinh, mà còn là cơ sở quan trọng để Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ vi phạm, khả năng tự nguyện khắc phục và xem xét việc áp dụng quyền khởi kiện theo quy định của Nghị quyết số 205/2025/QH15.

 

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, trên cơ sở nghiên cứu các quy định của Nghị quyết số 205/2025/QH15, các văn bản hướng dẫn của ngành Kiểm sát nhân dân và kinh nghiệm bước đầu trong công tác tham mưu, soạn thảo kiến nghị, tác giả trao đổi một số nội dung về “Kinh nghiệm soạn thảo kiến nghị trong thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15 của Quốc hội về thí điểmViện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sựđể bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương hoặc lợi ích công”, nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiến nghị, bảo đảm việc thực hiện cơ chế thí điểm được thống nhất, đúng pháp luật và đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền của nhóm dễ bị tổn thương, bảo vệ lợi ích công trong giai đoạn hiện nay.

 

I. Ý nghĩa của kiến nghị phòng ngừa trong thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15 
 

Nghị quyết số 205/2025/QH15 của Quốc hội đã thiết lập cơ chế thí điểm Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự công ích để bảo vệ quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công. Đây là bước phát triển quan trọng trong việc cụ thể hóa yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân và lợi ích của Nhà nước, xã hội theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và chủ trương cải cách tư pháp của Đảng.

Trong quá trình thực hiện cơ chế thí điểm này, kiến nghị phòng ngừa có vai trò quan trọng, là biện pháp pháp lý nhằm phát hiện sớm nguy cơ vi phạm, yêu cầu áp dụng biện pháp khắc phục, phòng ngừa và bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích được pháp luật bảo vệ. Nếu hoạt động khởi kiện theo Nghị quyết số 205/2025/QH15 nhằm yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự công ích để bảo vệ quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công thì kiến nghị phòng ngừa hướng tới việc phát hiện sớm nguy cơ vi phạm, yêu cầu áp dụng biện pháp khắc phục và phòng ngừa vi phạm tiếp tục xảy ra, qua đó hạn chế thiệt hại ngay từ giai đoạn đầu.

 

Theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), trong thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng các biện pháp khắc phục vi phạm pháp luật và phòng ngừa vi phạm. Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15, quyền kiến nghị được sử dụng như một công cụ pháp lý để Viện kiểm sát yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm hoặc áp dụng biện pháp phòng ngừa đối với những hành vi có khả năng xâm hại quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương hoặc ảnh hưởng đến lợi ích công.

 

Ý nghĩa của kiến nghị phòng ngừa trước hết thể hiện ở khả năng can thiệp sớm đối với các hành vi vi phạm hoặc nguy cơ vi phạm. Đối với người chưa thành niên, người cao tuổi, người khuyết tật và các chủ thể dễ bị tổn thương khác, khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thường bị hạn chế. Việc Viện kiểm sát kịp thời phát hiện dấu hiệu vi phạm và ban hành kiến nghị yêu cầu áp dụng biện pháp khắc phục, phòng ngừa góp phần ngăn chặn thiệt hại tiếp tục phát sinh, giảm thiểu tác động bất lợi về vật chất, tinh thần và xã hội, qua đó góp phần bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể này.

 

Kiến nghị phòng ngừa còn có ý nghĩa trong việc nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Thông qua kiến nghị, Viện kiểm sát yêu cầu chủ thể có trách nhiệm rà soát, chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục hậu quả và áp dụng biện pháp phòng ngừa vi phạm tiếp tục xảy ra. Việc thực hiện kiến nghị góp phần khôi phục quyền, lợi ích bị ảnh hưởng và tăng cường trách nhiệm quản lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân được kiến nghị.

 

Bên cạnh đó, quá trình xây dựng và ban hành kiến nghị phòng ngừa tạo điều kiện để Viện kiểm sát thu thập, kiểm tra và đánh giá tài liệu, chứng cứ, xác minh tình tiết vụ việc và làm rõ trách nhiệm của các chủ thể có liên quan. Hoạt động này góp phần củng cố cơ sở pháp lý và thực tiễn cho việc đánh giá tính chất, mức độ ảnh hưởng của hành vi vi phạm hoặc nguy cơ vi phạm đối với quyền của nhóm dễ bị tổn thương hoặc đối với lợi ích công.

 

Đối với các vụ việc liên quan đến lợi ích công, kiến nghị phòng ngừa góp phần thể hiện vai trò chủ động của Viện kiểm sát trong việc bảo vệ lợi ích của cộng đồng và xã hội. Trong các lĩnh vực như bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản lý và sử dụng tài sản công cộng, hậu quả của hành vi vi phạm thường vượt ra ngoài phạm vi quyền lợi của một cá nhân cụ thể. Việc kịp thời ban hành kiến nghị yêu cầu chấm dứt vi phạm, áp dụng biện pháp khắc phục và phòng ngừa tái phạm góp phần hạn chế nguy cơ gây thiệt hại cho cộng đồng và bảo vệ trật tự quản lý nhà nước.

 

Thực tiễn triển khai Nghị quyết số 205/2025/QH15 cho thấy, kiến nghị phòng ngừa được ban hành đúng thời điểm, đúng đối tượng, có căn cứ pháp lý rõ ràng và yêu cầu cụ thể sẽ tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chủ động khắc phục vi phạm, phòng ngừa hậu quả và bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích được pháp luật bảo vệ. Ngược lại, kiến nghị thiếu căn cứ, nhận định chưa chính xác, yêu cầu dàn trải hoặc không khả thi sẽ làm giảm hiệu quả phòng ngừa và ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện nhiệm vụ kiểm sát.

 

Kiến nghị phòng ngừa trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15 là biện pháp nghiệp vụ phục vụ hoạt động kiểm sát và là công cụ pháp lý để Viện kiểm sát chủ động phòng ngừa vi phạm, bảo vệ quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương và bảo vệ lợi ích công theo đúng tinh thần và mục tiêu của Nghị quyết.

 

II. Một số kinh nghiệm trong soạn thảo kiến nghị

1. Xác định đúng mục đích của kiến nghị

 

Trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15, việc xác định đúng mục đích của kiến nghị là yêu cầu có tính nền tảng, chi phối trực tiếp nội dung, phạm vi và yêu cầu của văn bản kiến nghị. Thực tiễn cho thấy, nếu không phân định rõ kiến nghị nhằm yêu cầu khắc phục, phòng ngừa vi phạm với kiến nghị được ban hành trong quá trình xem xét việc thực hiện quyền khởi kiện của Viện kiểm sát thì văn bản dễ thiếu trọng tâm, không phù hợp với giai đoạn xử lý vụ việc và ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng các biện pháp pháp lý tiếp theo.

 

Kiến nghị yêu cầu khắc phục, phòng ngừa vi phạm được áp dụng khi đã có căn cứ xác định hành vi vi phạm pháp luật hoặc nguy cơ xảy ra vi phạm, đồng thời cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan còn điều kiện thực hiện việc chấm dứt vi phạm, khôi phục quyền, lợi ích bị xâm hại và áp dụng biện pháp phòng ngừa vi phạm tiếp tục xảy ra. Đối với loại kiến nghị này, nội dung trọng tâm là xác định rõ hành vi vi phạm, hậu quả pháp lý phát sinh hoặc nguy cơ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích được pháp luật bảo vệ; trên cơ sở đó yêu cầu thực hiện các biện pháp khắc phục cụ thể, phù hợp với quy định của pháp luật và trong thời hạn xác định.

 

Khác với trường hợp nêu trên, kiến nghị được ban hành trong quá trình xem xét việc thực hiện quyền khởi kiện theo Nghị quyết số 205/2025/QH15 nhằm làm rõ các căn cứ pháp lý và tình tiết có liên quan đến vụ việc có dấu hiệu xâm hại quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương hoặc lợi ích công. Nội dung kiến nghị trong trường hợp này tập trung vào việc yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; xác minh tình tiết của vụ việc; xác định chủ thể có quyền, nghĩa vụ liên quan; làm rõ phạm vi quyền, lợi ích bị ảnh hưởng; cũng như tình trạng khắc phục vi phạm và hậu quả của vi phạm. Đây là cơ sở để Viện kiểm sát đánh giá việc đáp ứng các điều kiện thực hiện quyền khởi kiện theo quy định của Nghị quyết số 205/2025/QH15 và pháp luật có liên quan.

 

Trước khi soạn thảo kiến nghị, cần xác định rõ ba vấn đề cơ bản:

 

- Thứ nhất, hành vi vi phạm pháp luật hoặc nguy cơ vi phạm cần được xác định cụ thể, gắn với quy định pháp luật bị vi phạm và tài liệu, chứng cứ hoặc kết quả xác minh đã thu thập được.

 

- Thứ hai, phải làm rõ đối tượng bị tác động thuộc nhóm chủ thể dễ bị tổn thương nào theo phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết số 205/2025/QH15 hoặc lợi ích công nào đang bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại.

 

- Thứ ba, cần xác định rõ mục đích xử lý của Viện kiểm sát là yêu cầu chấm dứt, khắc phục vi phạm hay thu thập, củng cố căn cứ pháp lý và chứng cứ phục vụ việc xem xét thực hiện quyền khởi kiện.

 

Việc xác định đầy đủ và chính xác các vấn đề nêu trên có ý nghĩa định hướng đối với toàn bộ quá trình xây dựng kiến nghị. Khi mục đích của kiến nghị được xác định rõ ràng, việc lựa chọn căn cứ pháp lý, xác định phạm vi nội dung, mức độ đánh giá vi phạm, yêu cầu đặt ra đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và phương thức kiểm tra, theo dõi việc thực hiện kiến nghị sẽ bảo đảm tính phù hợp và tính khả thi. Ngược lại, việc xác định không đúng mục đích của kiến nghị dễ dẫn đến tình trạng yêu cầu không tương ứng với căn cứ đã xác định, nội dung thiếu trọng tâm hoặc không đáp ứng yêu cầu làm rõ căn cứ cho việc xem xét thực hiện quyền khởi kiện, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15.

 

2. Thu thập tài liệu, chứng cứ để ban hành kiến nghị phòng ngừa có căn cứ

Trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15, thu thập tài liệu, chứng cứ là khâu nghiệp vụ có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng, tính hợp pháp và hiệu lực của kiến nghị phòng ngừa. Kiến nghị chỉ bảo đảm giá trị pháp lý khi được ban hành trên cơ sở tài liệu khách quan, hợp pháp, làm rõ dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc nguy cơ xảy ra vi phạm có khả năng xâm hại quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương hoặc ảnh hưởng đến lợi ích công thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết.

 

Theo yêu cầu của Nghị quyết số 205/2025/QH15, việc xem xét, xử lý vụ việc phải dựa trên căn cứ pháp luật và tài liệu, chứng cứ thu thập được. Trong thực tiễn công tác kiểm sát, nguồn tài liệu phục vụ ban hành kiến nghị phòng ngừa cần được khai thác từ nhiều kênh thông tin khác nhau, bao gồm: hồ sơ kiểm sát; đơn thư phản ánh, kiến nghị của công dân; kết luận thanh tra, kiểm tra, kiểm toán; tài liệu do cơ quan chuyên môn cung cấp như cơ quan lao động, y tế, giáo dục, tài nguyên và môi trường, bảo trợ xã hội; biên bản xác minh trực tiếp của Viện kiểm sát; ý kiến của người bị ảnh hưởng hoặc người đại diện hợp pháp; cùng các tài liệu hợp pháp khác có liên quan đến vụ việc.

 

Đối với kiến nghị phòng ngừa, yêu cầu về chứng cứ không đồng nhất với yêu cầu chứng minh để giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án. Viện kiểm sát không phải chờ đến khi thu thập đầy đủ toàn bộ tài liệu như trong hồ sơ khởi kiện mới ban hành kiến nghị. Tuy nhiên, các tài liệu cốt lõi phải đủ căn cứ để xác định ba vấn đề có tính chất quyết định.

 

- Thứ nhất, phải có căn cứ xác định dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc nguy cơ xảy ra vi phạm. Dấu hiệu này phải được thể hiện bằng tài liệu, kết quả xác minh hoặc thông tin đã được kiểm tra, đối chiếu; không dựa trên phản ánh đơn thuần.

 

- Thứ hai, phải có căn cứ xác định quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương hoặc lợi ích công đang bị ảnh hưởng hoặc có nguy cơ bị ảnh hưởng. Việc xác định phải gắn với quyền dân sự cụ thể được pháp luật bảo vệ và phạm vi tác động thực tế của hành vi vi phạm.

 

- Thứ ba, phải xác định được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm áp dụng biện pháp khắc phục, phòng ngừa hoặc chấm dứt hành vi có nguy cơ gây thiệt hại. Đây là điều kiện bảo đảm tính khả thi và khả năng tổ chức thực hiện của kiến nghị.

Trong giai đoạn triển khai thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15, việc tổng hợp và đánh giá tài liệu cần được thực hiện chặt chẽ, bảo đảm nội dung kiến nghị gắn với tài liệu, chứng cứ cụ thể và xác định rõ cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện. Khi xây dựng kiến nghị phòng ngừa, cần ưu tiên các tài liệu trực tiếp thể hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật, hậu quả đã phát sinh hoặc nguy cơ phát sinh hậu quả, trách nhiệm quản lý của cơ quan có thẩm quyền và trách nhiệm pháp lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Cách tiếp cận này bảo đảm kiến nghị có căn cứ, rõ đối tượng thực hiện và nâng cao hiệu quả phòng ngừa vi phạm.

 

Đối với các vụ việc liên quan đến lợi ích công, yêu cầu về chứng cứ cần được đặt ra ở phạm vi rộng hơn quyền lợi của một cá nhân cụ thể. Tài liệu thu thập phải làm rõ mức độ ảnh hưởng đối với cộng đồng, môi trường, sức khỏe cộng đồng, quyền lợi người tiêu dùng, dữ liệu cá nhân, tài sản công cộng hoặc các lợi ích xã hội khác được pháp luật bảo vệ. Việc chỉ phản ánh thiệt hại của một cá nhân mà không chứng minh được tác động đến lợi ích công sẽ không đủ cơ sở để xác định đúng tính chất của vụ việc theo phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết số 205/2025/QH15.

 

Một yêu cầu đặc biệt quan trọng là tài liệu, chứng cứ phải bảo đảm tính hợp pháp, khách quan và có khả năng kiểm tra, đối chiếu. Tài liệu không rõ nguồn gốc, chưa được xác minh, không được cung cấp theo thẩm quyền hoặc được thu thập không đúng trình tự sẽ làm giảm giá trị chứng minh và ảnh hưởng đến tính thuyết phục của kiến nghị phòng ngừa.

 

Như vậy, thu thập tài liệu, chứng cứ để ban hành kiến nghị phòng ngừa theo Nghị quyết số 205/2025/QH15 không đặt ra yêu cầu chứng minh đầy đủ như trong hoạt động tố tụng dân sự, nhưng phải bảo đảm đủ căn cứ pháp lý và thực tiễn để Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan kịp thời áp dụng biện pháp khắc phục, phòng ngừa vi phạm và bảo vệ quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương cũng như lợi ích công theo đúng tinh thần và mục tiêu của Nghị quyết.

 

3. Cấu trúc kiến nghị cần ngắn gọn, logic, dễ thực hiện
 

Trong thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15, chất lượng của kiến nghị không phụ thuộc vào độ dài của văn bản mà phụ thuộc vào tính rõ ràng của căn cứ pháp lý, tính logic của lập luận và tính khả thi của yêu cầu được đặt ra. Một kiến nghị phòng ngừa được xây dựng chặt chẽ giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan xác định đúng trách nhiệm, tổ chức thực hiện thuận lợi và tạo điều kiện cho Viện kiểm sát kiểm tra, theo dõi kết quả thực hiện theo thẩm quyền.

 

Từ yêu cầu nghiệp vụ và thực tiễn xây dựng văn bản trong ngành Kiểm sát nhân dân, kiến nghị nên được kết cấu theo năm phần cơ bản sau đây:

 

- Thứ nhất, căn cứ ban hành kiến nghị. Phần này cần xác định rõ căn cứ pháp lý làm cơ sở cho việc ban hành kiến nghị, bao gồm Nghị quyết số 205/2025/QH15, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan đến vụ việc. Đồng thời, cần nêu rõ nguồn thông tin phát hiện dấu hiệu vi phạm hoặc nguy cơ xảy ra vi phạm như hồ sơ kiểm sát, kết quả xác minh, kết luận của cơ quan có thẩm quyền hoặc phản ánh, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

 

- Thứ hai, diễn biến vụ việc và kết quả xác minh. Nội dung này cần trình bày khách quan, ngắn gọn, theo trình tự thời gian và phản ánh đúng các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xác minh. Chỉ ghi nhận những tình tiết liên quan trực tiếp đến hành vi vi phạm hoặc nguy cơ xảy ra vi phạm; hạn chế lặp lại thông tin không cần thiết hoặc đưa nhận xét mang tính cảm tính, suy đoán.

 

- Thứ ba, nhận định về vi phạm và ảnh hưởng đối với quyền, lợi ích được pháp luật bảo vệ. Đây là phần trọng tâm của kiến nghị. Viện kiểm sát cần đối chiếu từng hành vi với quy định pháp luật cụ thể bị vi phạm hoặc có nguy cơ xảy ra vi phạm; phân tích mối liên hệ giữa hành vi đó với quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương hoặc với lợi ích công bị ảnh hưởng. Việc nhận định phải dựa trên tài liệu, chứng cứ đã được xác minh, bảo đảm tính chính xác, khách quan và thuyết phục.

 

- Thứ tư, yêu cầu kiến nghị. Yêu cầu phải cụ thể, rõ nội dung công việc cần thực hiện, xác định được chủ thể thực hiện, thời hạn thực hiện và kết quả cần đạt được. Đối với kiến nghị phòng ngừa, yêu cầu thường tập trung vào việc chấm dứt hành vi vi phạm, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát hoặc thực hiện các biện pháp phòng ngừa vi phạm tiếp tục xảy ra. Cần tránh các yêu cầu chung chung như “quan tâm chỉ đạo”, “xử lý theo quy định” mà không xác định rõ trách nhiệm và biện pháp thực hiện.

 

- Thứ năm, tổ chức thực hiện và phản hồi kết quả. Phần này cần ấn định thời hạn trả lời kiến nghị; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp văn bản và tài liệu chứng minh việc thực hiện; đồng thời xác định rõ đầu mối tiếp nhận, theo dõi và tổng hợp kết quả thực hiện kiến nghị. Việc quy định rõ trách nhiệm phản hồi góp phần nâng cao hiệu lực của kiến nghị và tạo cơ sở cho Viện kiểm sát thực hiện việc kiểm tra, đôn đốc theo thẩm quyền.

 

Việc xây dựng kiến nghị theo cấu trúc nêu trên không chỉ bảo đảm sự thống nhất trong kỹ thuật soạn thảo văn bản của ngành Kiểm sát nhân dân mà còn nâng cao tính thuyết phục, tính khả thi và hiệu quả phòng ngừa vi phạm trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15. 

 

4. Kỹ thuật viết phần nhận định về vi phạm và nguy cơ vi phạm

Trong cấu trúc kiến nghị phòng ngừa, phần nhận định là nội dung có ý nghĩa quyết định đối với tính thuyết phục và hiệu quả thực hiện của kiến nghị. Đây cũng là phần thường phát sinh nhiều ý kiến phản hồi từ cơ quan, tổ chức, cá nhân được kiến nghị, bởi nội dung nhận định liên quan trực tiếp đến việc xác định hành vi vi phạm pháp luật hoặc nguy cơ xảy ra vi phạm, trách nhiệm pháp lý và yêu cầu khắc phục, phòng ngừa.

 

Yêu cầu quan trọng đối với phần nhận định là phải được xây dựng trên cơ sở tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xác minh; bảo đảm tính khách quan, chính xác và có khả năng đối chiếu với quy định pháp luật cụ thể. Việc nhận định không được dừng ở mô tả hiện tượng hoặc đánh giá chung chung mà phải làm rõ mối liên hệ giữa hành vi, quy định pháp luật bị vi phạm hoặc có nguy cơ bị vi phạm, hậu quả đã phát sinh hoặc nguy cơ gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích được pháp luật bảo vệ và trách nhiệm của chủ thể có liên quan.

 

Trong thực tiễn soạn thảo, có thể vận dụng kết cấu lập luận theo trình tự: Hành vi → Quy định pháp luật bị vi phạm hoặc có nguy cơ bị vi phạm → Hậu quả hoặc nguy cơ ảnh hưởng → Trách nhiệm của chủ thể có liên quan.

 

Theo đó, trước hết cần xác định cụ thể hành vi vi phạm hoặc hành vi có nguy cơ dẫn đến vi phạm. Tiếp theo, đối chiếu trực tiếp với điều luật, khoản luật hoặc quy định chuyên ngành có liên quan. Sau đó, phân tích hậu quả đã phát sinh hoặc nguy cơ ảnh hưởng đến quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương hoặc đến lợi ích công. Cuối cùng, xác định rõ cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm quản lý, khắc phục hoặc chấm dứt hành vi vi phạm.

 

Ví dụ:

 

Việc Công ty A không bố trí lối tiếp cận cho người khuyết tật tại khu vực cung cấp dịch vụ công cộng không bảo đảm yêu cầu về tiếp cận đối với người khuyết tật theo quy định tại Điều … của Luật Người khuyết tật; hành vi này làm hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ của người khuyết tật, ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền bình đẳng trong tham gia đời sống xã hội; trách nhiệm thuộc về Công ty A với tư cách là đơn vị quản lý, khai thác công trình cung cấp dịch vụ công cộng.

 

Cách diễn đạt này xác định rõ hành vi, căn cứ pháp luật, hậu quả và chủ thể chịu trách nhiệm, qua đó tạo cơ sở trực tiếp cho yêu cầu kiến nghị ở phần tiếp theo.

 

Khi viết phần nhận định, cần tránh sử dụng các cụm từ mang tính định tính hoặc không xác định rõ căn cứ pháp luật, như: “có biểu hiện chưa phù hợp”, “cần rút kinh nghiệm”, “đề nghị quan tâm chỉ đạo” hoặc “chưa thực sự bảo đảm” nếu không chỉ ra cụ thể quy định pháp luật bị vi phạm hoặc nguy cơ xảy ra vi phạm. Những cách diễn đạt này làm giảm tính pháp lý, làm cho kiến nghị thiếu rõ ràng về căn cứ và khó xác định trách nhiệm thực hiện.

 

Đối với các vụ việc liên quan đến lợi ích công, phần nhận định cần làm rõ phạm vi ảnh hưởng đối với cộng đồng hoặc nhóm đối tượng chịu tác động, không chỉ dừng ở thiệt hại của một cá nhân cụ thể. Việc phân tích phải gắn với lợi ích công được pháp luật bảo vệ như môi trường, sức khỏe cộng đồng, quyền lợi người tiêu dùng, dữ liệu cá nhân hoặc tài sản công cộng.

 

Ngoài ra, cần phân biệt giữa hành vi đã vi phạm và hành vi có nguy cơ dẫn đến vi phạm. Nếu chưa đủ căn cứ xác định vi phạm đã xảy ra, kiến nghị phải sử dụng cách diễn đạt phù hợp với tính chất phòng ngừa, chẳng hạn: “có nguy cơ không bảo đảm…”, “có khả năng ảnh hưởng đến…”, “cần áp dụng biện pháp phòng ngừa để tránh phát sinh vi phạm…”. Việc lựa chọn ngôn ngữ chính xác không chỉ bảo đảm tính khách quan mà còn phù hợp với phạm vi và mục đích của kiến nghị phòng ngừa theo Nghị quyết số 205/2025/QH15.

Tóm lại, kỹ thuật viết phần nhận định đòi hỏi sự kết hợp giữa tư duy pháp lý, kỹ năng phân tích chứng cứ và kỹ năng diễn đạt hành chính – tư pháp. Một phần nhận định được xây dựng đúng kỹ thuật sẽ tạo nền tảng cho yêu cầu kiến nghị có căn cứ, rõ trách nhiệm, nâng cao tính thuyết phục và hiệu quả phòng ngừa trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15. 

5. Yêu cầu kiến nghị phải “rõ việc, rõ người, rõ thời hạn”

 

Trong quá trình xây dựng và theo dõi việc thực hiện kiến nghị, nội dung yêu cầu kiến nghị là căn cứ trực tiếp để xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân được kiến nghị và để Viện kiểm sát kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện. Những kiến nghị có nội dung chung chung, không xác định rõ công việc phải thực hiện, chủ thể thực hiện và thời hạn hoàn thành thường gây khó khăn cho việc tổ chức thực hiện, đôn đốc và kiểm tra kết quả.

 

Đối với kiến nghị phòng ngừa theo Nghị quyết số 205/2025/QH15, yêu cầu kiến nghị cần bảo đảm nguyên tắc rõ việc, rõ người, rõ thời hạn.

 

Rõ việc là xác định cụ thể nội dung công việc phải thực hiện, biện pháp khắc phục hoặc biện pháp phòng ngừa cần áp dụng; tránh các yêu cầu mang tính khái quát, không xác định được kết quả cần đạt.

 

Rõ người là xác định chính xác cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm thực hiện kiến nghị; trường hợp có nhiều chủ thể liên quan cần phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể.

 

Rõ thời hạn là xác định thời điểm hoàn thành hoặc thời hạn báo cáo kết quả thực hiện, tạo cơ sở cho việc theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc chấp hành kiến nghị.

 

Vì vậy, không nên sử dụng các cách diễn đạt như: “Đề nghị kiểm tra, xử lý theo quy định” hoặc “Đề nghị bảo đảm quyền lợi cho các đối tượng liên quan”, vì những yêu cầu này không xác định được nội dung công việc cụ thể, chủ thể chịu trách nhiệm và thời hạn thực hiện.

 

Thay vào đó, yêu cầu kiến nghị cần được thể hiện theo hướng cụ thể, có khả năng kiểm tra, đối chiếu, chẳng hạn:

 

- Tổ chức khám sức khỏe và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 12 trẻ em đang được nuôi dưỡng tại cơ sở trước ngày …;

 

- Chấm dứt việc thu khoản phí trái quy định và hoàn trả cho người tiêu dùng số tiền đã thu sai;

 

- Khôi phục tình trạng ban đầu của khu vực công cộng bị lấn chiếm và báo cáo kết quả thực hiện bằng văn bản kèm tài liệu chứng minh.

 

- Các yêu cầu nêu trên đều xác định được công việc cần thực hiện, đối tượng áp dụng, kết quả cần đạt và căn cứ để kiểm tra việc thực hiện.

 

Đối với các vụ việc liên quan đến nhóm dễ bị tổn thương, yêu cầu kiến nghị cần hướng trực tiếp vào việc khôi phục hoặc bảo đảm quyền dân sự cụ thể của chủ thể bị ảnh hưởng, như quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được tiếp cận giáo dục, quyền được tiếp cận công trình, dịch vụ công cộng hoặc quyền được bảo vệ thông tin cá nhân. Đối với các vụ việc liên quan đến lợi ích công, yêu cầu cần tập trung vào việc chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục hậu quả, phục hồi tình trạng ban đầu, áp dụng biện pháp quản lý, kiểm tra, giám sát hoặc phòng ngừa vi phạm tiếp tục xảy ra.

 

Nội dung kiến nghị phải phù hợp với thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân được kiến nghị. Viện kiểm sát không yêu cầu thực hiện những biện pháp vượt quá thẩm quyền pháp luật của chủ thể được kiến nghị hoặc thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan khác.

 

Trong quá trình soạn thảo, cần ưu tiên sử dụng các động từ thể hiện nghĩa vụ thực hiện cụ thể như: chấm dứt, khắc phục, hoàn trả, cấp, tổ chức, bố trí, phục hồi, cung cấp, báo cáo, kiểm tra, rà soát, thực hiện. Việc sử dụng ngôn ngữ rõ ràng, dứt khoát và gắn với kết quả cụ thể giúp nâng cao tính khả thi của kiến nghị, tạo thuận lợi cho việc kiểm tra, đôn đốc và đánh giá kết quả thực hiện trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15.

 

III. Một số lỗi thường gặp cần tránh

 

Trong quá trình nghiên cứu quy định của Nghị quyết số 205/2025/QH15 và trao đổi nghiệp vụ về công tác xây dựng kiến nghị phòng ngừa, có thể nhận diện một số hạn chế thường gặp ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, tính khả thi và hiệu quả thực hiện kiến nghị.

 

  Lỗi thường gặp

    Hệ quả

 

Trích dẫn quá nhiều căn cứ pháp luật

Làm loãng trọng tâm của kiến nghị, giảm tính rõ ràng của lập luận

Thuật lại vụ việc dài dòng, lặp lại tài liệu

Khó xác định hành vi vi phạm hoặc nguy cơ vi phạm chính

Không xác định rõ chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương hoặc lợi ích công bị ảnh hưởng

Thiếu căn cứ gắn với phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết số 205/2025/QH15

Yêu cầu kiến nghị chung chung, không xác định rõ trách nhiệm và thời hạn

Khó tổ chức thực hiện và khó kiểm tra, đôn đốc kết quả thực hiện

Không theo dõi, kiểm tra việc thực hiện sau khi ban hành kiến nghị

Làm giảm hiệu lực thực tế và hiệu quả phòng ngừa của kiến nghị

 

Kiến nghị là văn bản nghiệp vụ nhằm xác định vi phạm, yêu cầu khắc phục và phòng ngừa vi phạm; do đó chỉ nên viện dẫn những quy định pháp luật trực tiếp liên quan đến hành vi vi phạm, trách nhiệm của chủ thể có liên quan và yêu cầu kiến nghị. Việc trích dẫn quá nhiều căn cứ pháp luật hoặc thuật lại vụ việc dài dòng làm giảm tính cô đọng, gây khó khăn cho việc xác định trọng tâm của kiến nghị.

 

Trong thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15, cần xác định rõ chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương hoặc lợi ích công bị ảnh hưởng. Đây là căn cứ quan trọng để xác định phạm vi áp dụng Nghị quyết và định hướng nội dung kiến nghị. Trường hợp không làm rõ yếu tố này, kiến nghị sẽ thiếu cơ sở gắn với cơ chế bảo vệ đặc thù mà Nghị quyết số 205/2025/QH15 đặt ra.

 

Đối với phần yêu cầu kiến nghị, nội dung cần cụ thể về công việc phải thực hiện, chủ thể thực hiện và thời hạn thực hiện. Những yêu cầu mang tính khái quát như “xử lý theo quy định”, “quan tâm chỉ đạo” hoặc “bảo đảm quyền lợi” thường không xác định được nội dung phải thực hiện và căn cứ để kiểm tra việc thực hiện.

 

Sau khi ban hành kiến nghị, Viện kiểm sát cần theo dõi, đôn đốc và kiểm tra kết quả thực hiện theo thẩm quyền. Đây là khâu bảo đảm hiệu lực thực tế của kiến nghị phòng ngừa và là cơ sở để đánh giá mức độ chấp hành của cơ quan, tổ chức, cá nhân được kiến nghị.

 

Việc nhận diện và khắc phục kịp thời các hạn chế nêu trên góp phần nâng cao chất lượng kiến nghị, bảo đảm kiến nghị phòng ngừa được ban hành có căn cứ, đúng trọng tâm, có tính khả thi và phát huy hiệu quả trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15 

 

V. Một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng kiến nghị phòng ngừa

 

Từ yêu cầu thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15, việc nâng cao chất lượng kiến nghị phòng ngừa cần được thực hiện đồng bộ về hướng dẫn nghiệp vụ, kỹ thuật soạn thảo, cơ chế phối hợp và công tác theo dõi thực hiện.

 

- Trước hết, cần tăng cường tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ về áp dụng thống nhất Nghị quyết số 205/2025/QH15, tập trung vào việc nhận diện vụ việc thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết, xác định quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương, xác định lợi ích công bị ảnh hưởng và lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp theo từng loại vụ việc.

 

- Bên cạnh đó, cần nghiên cứu xây dựng mẫu kiến nghị phòng ngừa thống nhất trong ngành Kiểm sát nhân dân theo hướng bảo đảm tính ngắn gọn, rõ căn cứ pháp lý, rõ nội dung yêu cầu và thuận lợi cho việc kiểm tra, theo dõi kết quả thực hiện. Việc thống nhất kỹ thuật trình bày và cấu trúc văn bản sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu lực thực hiện kiến nghị.

 

- Đối với công tác phối hợp, cần tăng cường trao đổi thông tin với cơ quan chuyên môn và các tổ chức có liên quan trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của từng cơ quan, nhằm phục vụ việc thu thập tài liệu, xác minh tình tiết vụ việc và xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

 

- Một nội dung cần được quan tâm là thực hiện đầy đủ việc theo dõi, đôn đốc và kiểm tra kết quả thực hiện kiến nghị sau khi ban hành. Việc theo dõi cần gắn với thời hạn thực hiện, nội dung phải thực hiện và tài liệu chứng minh kết quả thực hiện, làm cơ sở đánh giá mức độ chấp hành kiến nghị và áp dụng biện pháp xử lý theo thẩm quyền khi cần thiết.

 

- Ngoài ra, cần chú trọng công tác tổng hợp, rút kinh nghiệm đối với các vụ việc điển hình trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15. Việc xây dựng nguồn tài liệu nghiệp vụ về các dạng vi phạm, kỹ thuật xác định căn cứ pháp lý, cách viết phần nhận định và yêu cầu kiến nghị sẽ hỗ trợ nâng cao chất lượng soạn thảo và bảo đảm áp dụng thống nhất trong thực tiễn.

 

Những nội dung trên nhằm góp phần nâng cao chất lượng kiến nghị phòng ngừa và hiệu quả thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15 trong bảo vệ quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương và bảo vệ lợi ích công.

Kết luận

 

Nghị quyết số 205/2025/QH15 của Quốc hội đã thiết lập cơ chế thí điểm mới, tạo điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân chủ động hơn trong việc bảo vệ quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương và bảo vệ lợi ích công. Trong quá trình thực hiện cơ chế này, kiến nghị phòng ngừa giữ vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớm dấu hiệu vi phạm, yêu cầu khắc phục kịp thời, phòng ngừa hậu quả tiếp tục phát sinh và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích được pháp luật bảo vệ.

 

Qua nghiên cứu các quy định của Nghị quyết số 205/2025/QH15, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và trao đổi nghiệp vụ về thực tiễn xây dựng kiến nghị, chất lượng của kiến nghị phụ thuộc vào việc xác định đúng mục đích ban hành, thu thập tài liệu, chứng cứ đầy đủ và hợp pháp, xây dựng cấu trúc văn bản chặt chẽ, viết phần nhận định có căn cứ pháp luật rõ ràng, xác định yêu cầu cụ thể và tổ chức theo dõi, kiểm tra kết quả thực hiện.

 

Đối với kiến nghị phòng ngừa theo Nghị quyết số 205/2025/QH15, yêu cầu đặt ra không phải là chứng minh đầy đủ như trong hoạt động tố tụng dân sự mà là bảo đảm đủ căn cứ pháp lý và thực tiễn để Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan áp dụng biện pháp khắc phục, phòng ngừa vi phạm và bảo vệ quyền, lợi ích được pháp luật bảo vệ. Việc sử dụng ngôn ngữ pháp lý chính xác, xác định rõ hành vi, căn cứ pháp luật, trách nhiệm và thời hạn thực hiện có ý nghĩa trực tiếp đối với tính khả thi và hiệu lực thực tế của kiến nghị.

 

Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa Viện kiểm sát với cơ quan chuyên môn, tổ chức xã hội và các cơ quan có liên quan, cùng với việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra kết quả thực hiện sau khi ban hành kiến nghị, là những điều kiện quan trọng để bảo đảm kiến nghị được thực hiện trên thực tế, không dừng lại ở việc ban hành văn bản.

 

Những nội dung trao đổi trong bài viết được tổng hợp từ quá trình nghiên cứu quy định pháp luật, trao đổi nghiệp vụ và định hướng áp dụng trong thực tiễn công tác kiểm sát. Việc tiếp tục hoàn thiện kỹ năng xây dựng kiến nghị phòng ngừa, bảo đảm áp dụng thống nhất và nâng cao hiệu quả thực hiện Nghị quyết số 205/2025/QH15 góp phần thực hiện tốt chức năng bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và lợi ích công của ngành Kiểm sát nhân dân trong giai đoạn hiện nay./.

CÁC BÀI LIÊN QUAN

Trở về 1 2 3 4 5 Tiếp

Số lượt truy cập:12,708,632 lượt

Số người online:1,794 người

© Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai thiết kế và giữ bản quyền
Mong bạn đọc góp ý kiến. Thư điện tử liên hệ: trangtinvks_gialai@vks.gov.vn